Las Vegas, January 1st 2010 · Las Vegas · Thanh-Phùng
Nhân quyền đâu phai Hồ quyền,
Human rights are not the Hồ's rights,
trói đời thù, lại giư quyền
binding life's enemies, yet keeping the right
thách đấu?
to challenge to a duel?
Hồ quyền muốn ha Nhân Quyền,
The Hồ's rights want to bring down Human Rights,
tưởng ta đây, ai ngờ quyền
thinking they are supreme, who knew the rights
đã hết
have run out
Nhân quyền đâu phai Hồ quyền,
trói đời thù, lại giư quyền
thách đấu?
Hồ quyền muốn ha Nhân Quyền,
tưởng ta đây, ai ngờ quyền
đã hết
← swipe to switch language →
marginalia
otherC) circled at top left
othervertical divider line between the two columns
· · ·
Mồng 9 tháng 6
09-06-2018 · Thanh-Phùng
Hai ngàn muời tám, lịch tây
Two thousand eighteen, western calendar
Nhằm năm Mậu-Tuất, năm cây lịch ta
Falling on the Mậu-Tuất year, our calendar's tree year
Phong Lê, đây tuổi trăm ả
Phong Lê, here at a hundred years
Yeue đây, mong chih lễ ả, mừng Phong
[?] here, hoping to make a ceremony, to celebrate Phong
Mừng Phong được sổng thong dong
Celebrate that Phong lives at ease
Không vì một ngoài trong đông đó tháng
[?]
tiêc cho tô hưu thần trang
[?]
Tuất tuy chưa bạch, lên trang về trời
[?]
chúc cha phon ở khỏt một
[?]
An vui, đơn kiếp như lời ước mong
Peaceful joy, single life as wished
Con ơi, đang song vui long
My child, living joyfully
Vui tâm, vui trí ở trong kiếp nay
Happy heart, happy mind in this life
Toan gia hay giữ tháng ngay
The whole family keeps the days
cho người thân thuộc cả ngày lẫn đêm
for kin both day and night
Sống sao, cho thật êm đềm
Live so as to be truly gentle
Bồ qua làm lỗi, đừng êm ngột ngạo
[?]
Rồi cùng học tập, thật cao,
Then study together, very high,
bao nhiêu thắt trung, đau nào cho nên.
[?]
Nha xag, được vững nhớ nên
[?]
Đề Kia, được vững nhớ bền tổ Kê
[?]
The thời, cha me thờ cha
[?]
Lớn lên, già quyền bạn bè vui thay!
Growing up, elder rights, friends how joyful!
bao người được song kiếp nay
how many get to live this life
Khoẻ hồi, tâm tốt, giúp thay kiếp người!
Healthy body, good heart, helping the human lot!
Hai ngàn muời tám, lịch tây
Nhằm năm Mậu-Tuất, năm cây lịch ta
Phong Lê, đây tuổi trăm ả
Yeue đây, mong chih lễ ả, mừng Phong
Mừng Phong được sổng thong dong
Không vì một ngoài trong đông đó tháng
tiêc cho tô hưu thần trang
Tuất tuy chưa bạch, lên trang về trời
chúc cha phon ở khỏt một
An vui, đơn kiếp như lời ước mong
Con ơi, đang song vui long
Vui tâm, vui trí ở trong kiếp nay
Toan gia hay giữ tháng ngay
cho người thân thuộc cả ngày lẫn đêm
Sống sao, cho thật êm đềm
Bồ qua làm lỗi, đừng êm ngột ngạo
Rồi cùng học tập, thật cao,
bao nhiêu thắt trung, đau nào cho nên.
Nha xag, được vững nhớ nên
Đề Kia, được vững nhớ bền tổ Kê
The thời, cha me thờ cha
Lớn lên, già quyền bạn bè vui thay!
bao người được song kiếp nay
Khoẻ hồi, tâm tốt, giúp thay kiếp người!
← swipe to switch language →
marginalia
otherpage rotated 90 degrees; text runs vertically
othercrossed-out header near title
uncertain readings
Yeue
chih
tô hưu thần trang
chưa bạch
phon ở khỏt
ngột ngạo
thắt trung
Nha xag
Đề Kia
tổ Kê
· · ·
Lưu danh
15-01-2011 · Las Vegas · Chanh Phung
Thì giờ thấm thoát thoi đưa
Time slips by like a weaving shuttle
Sáng chưa bảnh mắt, giờ trưa tới rồi
Morning barely opens the eyes, noon has come
Việc làm chưa chạy, chưa trôi
The work hasn't run, hasn't flowed
Hoàng hôn xuất hiện trước đời lạch song
Dusk appears before life's little stream
Chân trời vừa có mây hồng,
The horizon just has rosy clouds,
Màn đêm đã tới, hết trông thấy gì
Night's curtain has come, nothing more to see
Người già hết muốn mong chi
The old have no more to wish for
Bao nhiêu khổ ải, cũng thì đã qua
However much suffering, it too has passed
Chữ cầu chữ tín, thật thà
The word of asking, the word of trust, honesty
Trong tâm quý mến là ta sướng rồi
In the heart, being cherished, we are already happy
Học cao, đầy mẹp mỏng môi
Learn high, [?]
Bẻ tên, bẻ xương đúng ngôi chẳng yên
Break the name, break the bone, the right place isn't at peace
Nghèo tiền, giàu tiếng đức hiền
Poor in money, rich in the name of virtue
Còn hơn trọc phú chỉ thiên chữ tài
Better than a vulgar rich man valuing only talent
Ai ơi, hãy sửa chữ "Sai"
O everyone, correct the word "Wrong"
Lưu danh muôn thuở, ngày dài trong tâm.
Leave a name for all ages, the long day within the heart.
Thì giờ thấm thoát thoi đưa
Sáng chưa bảnh mắt, giờ trưa tới rồi
Việc làm chưa chạy, chưa trôi
Hoàng hôn xuất hiện trước đời lạch song
Chân trời vừa có mây hồng,
Màn đêm đã tới, hết trông thấy gì
Người già hết muốn mong chi
Bao nhiêu khổ ải, cũng thì đã qua
Chữ cầu chữ tín, thật thà
Trong tâm quý mến là ta sướng rồi
Học cao, đầy mẹp mỏng môi
Bẻ tên, bẻ xương đúng ngôi chẳng yên
Nghèo tiền, giàu tiếng đức hiền
Còn hơn trọc phú chỉ thiên chữ tài
Ai ơi, hãy sửa chữ "Sai"
Lưu danh muôn thuở, ngày dài trong tâm.
← swipe to switch language →
marginalia
other'Bài 2' written at top left — 'Poem 2'
uncertain readings
mẹp mỏng môi
· · ·
Nhớ Mẹ Nhớ Con
Nhớ lại mùa Xuân năm 1975; Oak Ridge, Tennessee, 1996 · Oak Ridge, Tennessee · Lê thị Phòng
Bâng khuâng nhớ nước nhớ nhà,
Wistfully missing the country, missing home,
Nhớ anh nhớ mẹ cùng là nhớ con.
Missing you, missing mother, and missing my child.
Lạy trời theo được ý con,
Praying to heaven to follow my child's wish,
Để con phúc đáp cho tròn nơi sinh.
So the child can fully repay the place of birth.
Ngày ngày mắt lệ chờ trông.
Day by day, tearful eyes waiting.
Đêm đêm tưởng nhớ thâu mong ngày về.
Night by night, remembering, longing for the day of return.
Ở đây thiếu nắng ven đê,
Here there's a lack of sunlight along the dike,
Thiếu con ngõ hẻm đường về có chăng?
Missing the child's alley — is there a way back?
Nhớ đàn cháu nhỏ tung tăng,
Missing the little grandchildren frolicking,
Nhớ khuôn cửa tựa vẫn rằng đợi con.
Missing the doorframe still leaning, saying it waits for the child.
Xa xôi nghìn dặm nước non,
A thousand miles away, the country,
Quê hương xưa hẳn hãy còn xanh tươi.
The old homeland surely is still green and fresh.
Thương con tuổi dại vào đời,
Pitying the child entering life so young,
Thiếu tình mẫu tử, thiếu lời dạy răn.
Lacking a mother's love, lacking words of teaching.
Sông dài bể rộng đừng ngăn.
Long rivers, wide seas, do not block.
Thêm son vạn thủy xin gần lại nhau.
[?] ten thousand waters, please draw near each other.
Đừng chia đất Á trời Âu,
Don't divide the land of Asia and sky of Europe,
Đừng gieo rắc mãi để sầu cho tôi.
Don't keep sowing sorrow for me.
Vì đâu nhạn lạc mây trôi!
Why is the wild goose lost, the clouds drifting!
Hai mươi năm lẻ chia đôi sơn hà.
Twenty-odd years dividing the land in two.
Ha ha đông đến thu già.
Ha ha, winter comes, autumn ages.
Ngọn xuân sắp tới vẫn là chia ly.
The coming spring is still separation.
Bâng khuâng nhớ nước nhớ nhà,
Nhớ anh nhớ mẹ cùng là nhớ con.
Lạy trời theo được ý con,
Để con phúc đáp cho tròn nơi sinh.
Ngày ngày mắt lệ chờ trông.
Đêm đêm tưởng nhớ thâu mong ngày về.
Ở đây thiếu nắng ven đê,
Thiếu con ngõ hẻm đường về có chăng?
Nhớ đàn cháu nhỏ tung tăng,
Nhớ khuôn cửa tựa vẫn rằng đợi con.
Xa xôi nghìn dặm nước non,
Quê hương xưa hẳn hãy còn xanh tươi.
Thương con tuổi dại vào đời,
Thiếu tình mẫu tử, thiếu lời dạy răn.
Sông dài bể rộng đừng ngăn.
Thêm son vạn thủy xin gần lại nhau.
Đừng chia đất Á trời Âu,
Đừng gieo rắc mãi để sầu cho tôi.
Vì đâu nhạn lạc mây trôi!
Hai mươi năm lẻ chia đôi sơn hà.
Ha ha đông đến thu già.
Ngọn xuân sắp tới vẫn là chia ly.
← swipe to switch language →
footnotes
Nhớ lại mùa Xuân năm 1975 — Recalling Spring 1975, the fall of Saigon and subsequent family separation and exile.
uncertain readings
Thêm son
· · ·
LẤY PHẢI CHỒNG GÀN
Thanh-Phùng
Ru con con ngủ cho rồi,
Rock the child to sleep,
Mẹ ra chỗ vắng mẹ ngồi thở than!
Mother goes to an empty place to sit and lament!
Than thân lấy phải chồng gàn,
Lamenting her fate of marrying a stubborn husband,
Tiếc công trang điểm thế gian chê cười!
Regretting the effort of makeup that the world mocks!
Gàn đâu gàn quái là đời,
What kind of stubbornness, so odd is this life,
Phải chi làm trái làm lỗi khích trêu!
If only he made mistakes deliberately to tease!
Vợ khôn thì mắng rằng điêu,
A clever wife he scolds as cunning,
Vợ thông minh mắng rằng điêu tài hoa!
An intelligent wife he scolds as slyly talented!
Vợ hay ăn mặc thướt tha,
A wife who dresses gracefully,
Mắng rằng trang điểm để mà làm chi!
He scolds: why bother with makeup!
Vợ trông hình dáng oai nghi,
A wife of dignified appearance,
Mắng rằng trang điểm có khi hai chồng!
He scolds that makeup means maybe two husbands!
Thế thì có tức hay không?
So isn't that infuriating or not?
Phải chi lỗi đạo tam tòng cho cam.
If only she'd broken the three obediences, so be it.
Thông minh tài trí đảm đang,
Intelligent, talented, capable,
Mà chồng lại mắng nghĩ càng giận thay!
Yet the husband scolds, the more you think the angrier!
Bởi chăng là phần không may,
Because it's just bad luck,
Cho nên bác mẹ tham ngay nỗi giàu,
So the parents were greedy for wealth,
Nỡ đem ép buộc minh châu,
Cruelly forcing the precious pearl,
Lần cùng đã sổi cho đau lòng vàng.
[?] causing the golden heart pain.
Ví mà miễn cưỡng kêu oan,
If reluctantly she cries injustice,
Mắng câu bất hiếu lại càng khổ thay.
She's scolded as unfilial, all the more wretched.
Bởi tôi nghe bác mẹ này,
Because I listened to these parents,
Cho nên tôi phải đắng cay sự chồng!
So I must endure the bitterness of a husband!
Cũng may ăn ở có công,
Luckily living together has its merit,
Được đàn bé nhỏ bế bồng cũng vui!
Having little children to carry is also joy!
Lạy trời phù hộ con tôi,
Praying heaven blesses my children,
Hay ăn chóng lớn biết chơi biết đùa.
To eat well, grow fast, know how to play.
Lớn lên tài trí ganh đua,
Grow up with talent to compete,
Làm nên cho mẹ được nhờ chút nào,
Succeed so mother may lean on them a little,
Bõ công mẹ chịu lao đao,
Worth mother's endured hardship,
Khi ra chồng mắng khi vào con kêu!
When out, the husband scolds; when in, the child cries!
Ru con con ngủ cho rồi,
Mẹ ra chỗ vắng mẹ ngồi thở than!
Than thân lấy phải chồng gàn,
Tiếc công trang điểm thế gian chê cười!
Gàn đâu gàn quái là đời,
Phải chi làm trái làm lỗi khích trêu!
Vợ khôn thì mắng rằng điêu,
Vợ thông minh mắng rằng điêu tài hoa!
Vợ hay ăn mặc thướt tha,
Mắng rằng trang điểm để mà làm chi!
Vợ trông hình dáng oai nghi,
Mắng rằng trang điểm có khi hai chồng!
Thế thì có tức hay không?
Phải chi lỗi đạo tam tòng cho cam.
Thông minh tài trí đảm đang,
Mà chồng lại mắng nghĩ càng giận thay!
Bởi chăng là phần không may,
Cho nên bác mẹ tham ngay nỗi giàu,
Nỡ đem ép buộc minh châu,
Lần cùng đã sổi cho đau lòng vàng.
Ví mà miễn cưỡng kêu oan,
Mắng câu bất hiếu lại càng khổ thay.
Bởi tôi nghe bác mẹ này,
Cho nên tôi phải đắng cay sự chồng!
Cũng may ăn ở có công,
Được đàn bé nhỏ bế bồng cũng vui!
Lạy trời phù hộ con tôi,
Hay ăn chóng lớn biết chơi biết đùa.
Lớn lên tài trí ganh đua,
Làm nên cho mẹ được nhờ chút nào,
Bõ công mẹ chịu lao đao,
Khi ra chồng mắng khi vào con kêu!
← swipe to switch language →
footnotes
tam tòng — The 'three obediences' (tam tòng) of Confucian tradition for women.
marginalia
other'1' written at top left margin
othernumerous tone-mark corrections drawn above many words throughout
othercurved bracket line drawn at left near 'Tiếc công' / 'Gàn đâu' lines
uncertain readings
sổi
· · ·
Không đề
14-5-04 · T.P.
Mồng năm tháng tám đã qua rồi
The fifth of the eighth month has passed
Thấy anh mà không thấy mẹ tôi
I see my brother but not my mother
Trịnh thảo trong tâm, tôi nho mai
[?] in the heart, I remember always
Mười lăm tháng tám thất tôi rồi
The fifteenth of the eighth month, I lost [?]
Phùng Thanh bỏ để ra tôi đây
Phùng Thanh left, leaving me here
Cuối cùng không còn nhớ quá thời
In the end can no longer remember, past the time
Tại Thiên đàn con, tâm khẩn nguyện
At Thiên's altar, the child prays fervently
Mong người họ độ lúc năm tôi
Hoping they bless [me] at my [old] age
Mồng năm tháng tám đã qua rồi
Thấy anh mà không thấy mẹ tôi
Trịnh thảo trong tâm, tôi nho mai
Mười lăm tháng tám thất tôi rồi
Phùng Thanh bỏ để ra tôi đây
Cuối cùng không còn nhớ quá thời
Tại Thiên đàn con, tâm khẩn nguyện
Mong người họ độ lúc năm tôi
← swipe to switch language →
marginalia
side_note5/8 và 15/8 (Tang chu thươi Tai) — 5/8 and 15/8 (mourning...)
uncertain readings
Trịnh thảo
nho mai
thất tôi
Tại Thiên đàn
Tang chu thươi Tai
· · ·
Không đề
Cầu cho hạnh phúc khoẻ tươi
Wish for happiness, healthy and fresh
Chúc cho trăm tuổi miệng cười như hoa
Wish a hundred years with a smile like flowers
Vợ chồng mưa nắng hiền hoa
Husband and wife through rain and shine, gentle
Mẹ cha giữ đạo gần xa ân cần
Parents keep the way, near and far, attentive
Họ hàng cô bác người thân
Relatives, aunts, uncles, kin
Riêng tây mã lại thêm phần nhớ thương
[?] all the more add remembrance and love
Cầu cho hạnh phúc khoẻ tươi
Chúc cho trăm tuổi miệng cười như hoa
Vợ chồng mưa nắng hiền hoa
Mẹ cha giữ đạo gần xa ân cần
Họ hàng cô bác người thân
Riêng tây mã lại thêm phần nhớ thương
← swipe to switch language →
marginalia
strikethroughlarge X drawn through this whole stanza
other'OK' circled in left margin
side_notedù xa hoặc gần — whether far or near
other'3' page number top right
uncertain readings
Riêng tây mã
· · ·
Không đề
Sông Mê nước Lú có câu
The River of Delusion, the Water of Forgetting has a saying
Sống lâu trăm tuổi, bạc đầu phai qua
Living long to a hundred, white hair fades away
Bên này con cháu người nhà
On this side, children, grandchildren, family
Bên kia cụ ky tòng gia đã về
On that side, great-ancestors of the lineage have returned
Âm Dương chỉ cách Sông Mê
Yin and Yang are separated only by the River of Delusion
Sống cho ra sống, lúc về mới yên thanh thời
Live so as to truly live, only at return is there peace
Sông Mê nước Lú có câu
Sống lâu trăm tuổi, bạc đầu phai qua
Bên này con cháu người nhà
Bên kia cụ ky tòng gia đã về
Âm Dương chỉ cách Sông Mê
Sống cho ra sống, lúc về mới yên thanh thời
← swipe to switch language →
footnotes
Sông Mê — Sông Mê (River of Delusion) and bến Lú (Wharf of Forgetting) are Vietnamese folk references to the crossing between life and death.
marginalia
correctionĐầu bài): Sông Mê, bến Lú (title suggestion in margin) — Title): River Mê, wharf Lú
strikethrough'nước Lú' crossed out, replaced with 'bến Lú'
other'OK' circled in left margin
insertion'Thêm 2 câu cuối' with arrow (add 2 final lines) — Add 2 last lines
correctionmarginal replacement 'thanh thời' for end of last line
insertionhandwritten added couplet: 'Hờn nhau lúc sống ở đời / Tiếng thơm để lại ai đi nhớ cùng.' — Resentment while living in life / A good name left behind, whoever leaves remembers together.
uncertain readings
thanh thời
· · ·
Đức Dụ
Giúp công, giúp của cùng làm
Help with labor, help with means, work together
Có vui, có khổ, không cam nhọc nhằn
There's joy, there's hardship, not enduring toil
Tổ tiên đã dạy, đã răn
The ancestors taught, admonished
Đoàn viên, hợp tác là căn Lạc Hồng
Unity, cooperation is the root of the Lạc Hồng
Rồi ra, to mặt họ tông,
Then the clan's face grows large,
Cháu con nối rồi, nên ông, nên ba.
Children and grandchildren carry on, become grandfathers, become fathers.
Giúp công, giúp của cùng làm
Có vui, có khổ, không cam nhọc nhằn
Tổ tiên đã dạy, đã răn
Đoàn viên, hợp tác là căn Lạc Hồng
Rồi ra, to mặt họ tông,
Cháu con nối rồi, nên ông, nên ba.
← swipe to switch language →
footnotes
Lạc Hồng — Lạc Hồng refers to the legendary origins of the Vietnamese people (Lạc Long Quân and Âu Cơ).
marginalia
correction'chẳng' written above 'không'
strikethrough'không' crossed out
other'OK' circled in left margin
strikethroughcross-hatching over lines 4-6
insertion'Hợp Tác (đầu bài)' in right margin (title suggestion) — Cooperation (title)
insertionhandwritten alternate stanza: 'Mừng vui hợp tác tiên tân có nhau / Cùng nên phân biệt nghèo giàu / Cùng nên thay đổi vàng thau bất thường / Tổ ra thành, thật yêu thương / Tương lai sáng tỏa mọi đường thấy hay' — Rejoice in cooperation, ancestors and descendants together / Together we should distinguish poor and rich / Together we should change the unusual gold and brass / [?] truly loving / A bright future in all ways seen as good
other'kết chữ tổ đầu bài' with strikethrough in right margin
uncertain readings
tiên tân
· · ·
Ngày Xuân gửi bạn đồng hương
Nhớ làng nhớ nước nhớ non,
Missing the village, the country, the mountains,
Nhớ lò khói toả, nhớ lồng củi cao
Missing the kiln's spreading smoke, missing the tall firewood cage
Hồng Hà nước chảy ào ào
The Red River's water rushing
Mắm, cau, buôn bán sao sao dân làng
Fish sauce, betel, trading, [?] the villagers
Bát đàn, bát xứ, bát nhang
Common bowls, provincial bowls, incense bowls
Bình vôi, ấm, chén là hàng nung ra
Lime pots, teapots, cups are the fired wares
Ngày đêm, con cái, mẹ, cha
Day and night, children, mother, father
Sớm vui, tối họp, nhất là bữa ăn
Morning joy, evening gathering, especially the meal
Người thân khi khuất con răn
When kin pass, the children are admonished
Cùng nhau chăm chỉ, nhớ căn Bát Tràng.
Together diligently, remember the roots of Bát Tràng.
Đồng hương ghi nhớ lời vàng
Fellow villagers, remember the golden words
Gần xa tô điểm cho làng hơn xưa.
Near and far, embellish the village more than before.
Nhớ làng nhớ nước nhớ non,
Nhớ lò khói toả, nhớ lồng củi cao
Hồng Hà nước chảy ào ào
Mắm, cau, buôn bán sao sao dân làng
Bát đàn, bát xứ, bát nhang
Bình vôi, ấm, chén là hàng nung ra
Ngày đêm, con cái, mẹ, cha
Sớm vui, tối họp, nhất là bữa ăn
Người thân khi khuất con răn
Cùng nhau chăm chỉ, nhớ căn Bát Tràng.
Đồng hương ghi nhớ lời vàng
Gần xa tô điểm cho làng hơn xưa.
← swipe to switch language →
footnotes
Bát Tràng — Per author's note: Làng Bát Tràng, in Gia Lâm district, Bắc Ninh province, on the left bank of the Red River near Hà Nội, famous for brick/pottery making, and for betel and fish-sauce trade before 1950.
marginalia
strikethroughtitle 'Ngày Xuân gửi bạn đồng hương' encircled/struck
other'OK' circled in left margin
strikethrough'sao sao dân làng' struck; replaced 'sờn sao [?] làng'
insertion'nần' written above near 'nứng ra'
otherfaint handwritten notes at right margin
uncertain readings
sao sao
sờn sao
· · ·
Hồng Hạ Đế
28-9-03 · T.P.
Đức con, lò ấy chữ đầu
[?] child, that kiln, the first word
Nước thừa công nọ là đầu ngọn sông
[?] that labor's surplus is the river's source
Lọt lòng, đỏ đỏ hồng hồng
Newborn, all red and rosy
Chính cung thiên tạo ai không lạ gì
The main palace made by heaven, no one finds strange
Ba Đề, tên đóng chữ chi
Ba Đề, the name stamped with what letter
Có ông bụt gác bốn kỳ, đứng canh
There's a Buddha guarding four seasons, standing watch
Lớn lên, đều biết danh danh
Grown up, all know the fame
Nông sâu, nông hẹp hôi tanh chẳng cần
Deep or shallow, narrow, foul-smelling, no matter
Lòng đời đã có tư đâu
[?] life's heart already has [?]
Ai ai cũng viếng nọ nàn mặc ai
Everyone visits, [?] whatever
Ông khoe đề còn lại đâu
The man boasts [?] what remains
Bà rằng túc mày đỏ hai hiệp liền
The woman says [?]
Ông khoe đã có thuốc tiên
The man boasts he has the fairy medicine
Bà rằng có thuốc thì điền thử coi
The woman says if there's medicine, fill it in and try